TRANH LÀNG SÌNH - NGHỆ THUẬT DÂN GIAN GIỮA LÒNG XỨ HUẾ
SẮC MÀU TỪ BÙN ĐẤT VÀ TÂM HỒN VIỆT
Huế – vùng đất cố đô mang đậm hơi thở truyền thống, mang vẻ đẹp trầm mặc của bóng dáng thế thời, vạn sự đã qua, không chỉ nổi tiếng với nhã nhạc cung đình, những mái chùa cổ kính, mà còn là nơi lưu giữ những tinh hoa dân gian mộc mạc. Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 10 km về phía Đông, bên bờ sông Hương hiền hòa thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, có một làng nhỏ đã hơn 400 năm cần mẫn giữ hồn dân gian qua từng nét vẽ: làng Sình (ngày nay gọi làng Lại Ân) – quê hương của tranh dân gian làng Sình.
DÒNG CHẢY BỐN THẾ KỶ – DẤU ẤN VĂN HÓA XỨ HUẾ
Tương truyền, làng Sình (tên chữ: Lại Ân) xuất hiện từ thế kỷ XVI – XVII, thời các chúa Nguyễn bắt đầu định hình vùng đất Thuận Hóa. Đây còn là một trung tâm văn hóa của vùng cố đô, đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Từ giữa thế kỷ XVI, đã được Dương Văn An nhắc đến trong Ô châu cận lục như một điểm giao thương nhộn nhịp:
“Cầu Bao Vinh ngựa xe tấp nập, làng Lại Ân tiếng gà gáy sáng giục khách thương tài lợi cạnh tranh…”, hay “Xóm Lại Ân canh gà xào xạc - Giục khách thương mua một bán mười”.
Theo truyền thuyết kể lại, thời Trịnh - Nguyễn, trong đoàn người tìm vào đất Thuận Hóa định cư, ông Kỳ Hữu Hòa, mang theo nghề làm tranh giấy mộc bản của làng quê mình để mưu sinh, tranh làng Sình ra đời từ đó. Huế, mảnh đất của rất nhiều những tín ngưỡng văn hóa dân gian như lễ thờ cúng tổ tiên đã tạo điều kiện cho tranh làng Sình có cơ sở để phát triển lâu dài.
Ngày nay, làng Lại Ân có tên Nôm là Sình còn được biết đến như một làng văn vật của đất cố đô, nơi còn lưu giữ nghề làm tranh cổ truyền và một hội vật nổi tiếng, tổ chức vào ngày mồng mười tháng giêng âm lịch hàng năm.
“Dù ai đi đó đi đây - Đến ngày Hội vật nhớ quay về Sình”
Ban đầu, tranh làng Sình chủ yếu phục vụ nhu cầu tín ngưỡng: in tranh để cúng bái trong các lễ nghi của người dân xứ Huế, đặc biệt là các lễ vật trong tục “lễ sống” (cúng cầu bình an, may mắn).Trải qua bao biến thiên lịch sử, những bức tranh mộc mạc ấy vẫn tồn tại, trở thành chứng nhân của văn hóa Huế. Mỗi bức tranh không chỉ là hình vẽ trên giấy dó, mà còn là lời nhắn gửi của cha ông về đạo lý, về niềm tin tâm linh, về vẻ đẹp dân gian giản dị mà sâu sắc.
CÔNG ĐOẠN TỈ MỈ GỬI HỒN VIỆT VÀO TRANH LÀNG SÌNH
Công đoạn 1 – Xén giấy: Giấy dó được cắt gọn gàng theo đúng khổ tranh. Đây là bước đầu tiên chuẩn bị nền tảng, bảo đảm bức tranh có kích thước chuẩn và dễ thao tác ở các công đoạn sau.
| Nghệ nhân chuẩn bị xén giấy cho phù hợp với kích thước tranh định vẽ |
Công đoạn 2 – Quét điệp: Người thợ dùng bột điệp nghiền từ vỏ sò, vỏ điệp biển pha loãng quét đều lên giấy. Giấy dó được quét điệp cho dai, giữ màu. Vỏ điệp được nhập từ phá Tam Giang rồi ngồi giã, nghiền thật nhỏ, trộn với lớp bột gạo thành một lớp mịn quét đều lên giấy. Không riêng việc quét hồ điệp lên giấy mà pha màu tự nhiên cũng đòi hỏi không ít công phu. Các gam màu sử dụng trong tranh làng Sình đều được làm từ cây cỏ và có đủ loại màu
| Nghệ nhân sử dụng giấy gió phủ bột vỏ sò để làm nền cho bức tranh |
Công đoạn 3 – In tranh trên mộc bản: Tờ giấy đã quét điệp được đặt lên ván khắc gỗ mít hoặc gỗ thị, quét mực đen và ép nhẹ để hình ảnh in ra rõ nét, đều đặn.
| Tranh làng Sình sử dụng kỹ thuật in khuôn và tô màu thủ công độc đáo |
Công đoạn 4 – Phơi tranh: Sau khi in xong, tranh được phơi dưới nắng tự nhiên để mực khô và bám chắc vào giấy. Đây là bước quan trọng để tránh tình trạng nhòe màu, đảm bảo độ bền cho bức tranh.
Công đoạn 5 – Pha màu: Nghệ nhân chuẩn bị màu sắc hoàn toàn từ nguyên liệu thiên nhiên: đỏ từ sỏi son, vàng từ củ nghệ hay hoa hòe, xanh từ lá chàm… Màu được pha thủ công, cân chỉnh để đạt sắc độ hài hòa.
Công đoạn 6 – Tô màu: Người thợ khéo léo dùng chổi tre hoặc bút lông tô từng mảng màu lên tranh. Đây là khâu đòi hỏi mắt thẩm mỹ và sự chính xác để tạo nên bức tranh sinh động, cân đối về bố cục và màu sắc.
Công đoạn 7 – Điểm nhãn: Đây là bước cuối cùng và cũng là linh hồn của tác phẩm. Chỉ với vài nét bút nhỏ để vẽ mắt, miệng hay đường viền, nghệ nhân đã thổi hồn vào bức tranh, khiến hình ảnh có sức sống và biểu cảm.
ĐẶC ĐIỂM TRANH LÀNG SÌNH
Tranh làng Sình độc đáo từ mục đích sử dụng đến cách thức thành phẩm. Từ những bản mộc đã có hoạ tiết, người làm tranh dùng mực màu đen làm bằng tro rơm rạ và lá bạc để quét đều lên. Sau đó dùng giấy in thành một bức tranh thô. Giấy được in là giấy gió quét điệp.
Khi làm ra một bức tranh, bản khắc gỗ và mực đen chỉ giữ vai trò làm khuôn và in nét chính. Những màu sắc còn lại được nghệ nhân tô bằng tay. Tranh làng Sình gồm 5 màu sắc chủ đạo: xanh, đỏ, vàng, tím, cam. Xưa kia việc pha màu được làm từ những nguyên liệu thô tự nhiên như gạch non, lá cây đung, vỏ điệp, hoa dần dần... Nhưng ngày nay, để giữ giá thành sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường, những người làm tranh ở làng Sình như ông Phước phải dùng đến màu công nghiệp. Tuy vậy, mỗi bức tranh vẫn là một nét độc đáo, mang dấu ấn và cái tâm của người sáng tạo.
Tranh làng Sình có bố cục theo lối ước lệ thuận mắt, không cầu kỳ nhưng rất sống động, sắc nét và có hồn. Màu sắc tươi sáng, những đường nét thô sơ, tự nhiên, đậm chất mộc mạc làng quê. Sức thẩm mỹ đó cũng đã làm nên vẻ đẹp riêng có, độc đáo của dòng tranh dân gian xứ Huế.
NỘI DUNG PHONG PHÚ – LINH HỒN DÂN GIAN
Tranh thờ: Hình ảnh các vị thần, ông bà tổ tiên, gia súc, gia cầm… phục vụ cúng lễ. Những bức tranh sau khi cúng xong sẽ được mang hoá đi. Đó cũng là sự khác biệt của dòng tranh tín ngưỡng làng Sình so với các dòng tranh dân gian khác như tranh đông hồ (Bắc Ninh), tranh Hàng Trống (Hà Nội). Ngày nay, những nghệ nhân nhà ở làng đã sáng tạo thêm dòng tranh trang trí mang lại cho tranh làng Sình một hơi thở mới, gần gũi hơn với đời sống.
| "Mẹ sanh Mẹ độ" - tranh thờ Làng Sình |
| "Mẫu Thoải" - tranh Làng Sình |
Tranh sinh hoạt: Mô tả cảnh đấu vật, chăn trâu thổi sáo, múa lân – ghi lại nhịp sống dân gian.
| "Hội Bài Chòi" - tranh Làng Sình |
| "Bát Âm" - tranh Làng Sình đương đại |
| "Thời vụ" - tranh Lành Sình đương đại |
Tranh chúc tụng: Hình gà trống, cá chép, cây trái tượng trưng cho may mắn, phúc lộc.
Mỗi bức tranh đều chứa đựng một triết lý nhân sinh sâu sắc: hướng thiện, biết ơn tổ tiên, ước vọng bình an và no ấm.
NGƯỜI GIỮ HỒN TRANH
Ông Phước là hậu duệ duy nhất trong làng còn giữ được nghề làm tranh qua giai đoạn bĩ cực. Sau đó, ông đã truyền dạy cho mọi người để hồi sinh làng nghề. Giờ đây, nghề truyền thống này đã được gây dựng lại, đáp ứng được đời sống văn hoá tinh thần của người dân đất Cố đô.
Hiện nay trong làng chủ yếu những người già làm tranh. Loại tranh mọi người làm đa số là tranh thờ cúng. Chỉ có nhà ông Phước là còn làm thêm tranh dân gian phục vụ cho nghệ thuật và du lịch. Gần 80 tuổi, nghệ nhân Kỳ Hữu Phước vẫn say mê, miệt mài với nghề làm tranh.
TRẢI NGHIỆM VÀ LAN TỎA
Ngày nay, làng Sình không chỉ là nơi sản xuất tranh dân gian mà còn là không gian văn hóa sống động. Du khách, đặc biệt là giới trẻ và người nước ngoài, thích thú với việc: tham quan xưởng tranh, nghe kể về lịch sử làng nghề, chụp ảnh cùng những ván in gỗ lâu đời, cảm nhận mùi mực và bột màu tự nhiên.
Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước tâm sự: “Tranh làng Sình cũng khá dễ học và dễ làm. Có điều lưu ý, nếu vừa tô màu vừa nói chuyện là hư bức tranh ngay. Do vậy, muốn thành hình một bức tranh cần cái tâm mình chú trọng vào bức tranh ấy."
Tranh Sình đã vượt khỏi biên giới Huế, xuất hiện tại nhiều triển lãm ở Hà Nội, TP.HCM và cả quốc tế. Từ một sản phẩm tín ngưỡng, tranh làng Sình đã trở thành cầu nối văn hóa, đưa hình ảnh Huế đến với bạn bè năm châu.
SẮC MÀU VĨNH CỬU GIỮA LÒNG CỐ ĐÔ
Mỗi bức tranh làng Sình không chỉ đơn thuần là tác phẩm nghệ thuật. Đó là sự kết tinh của bùn đất, cây cỏ, bàn tay khéo léo và tâm hồn Việt. Trong những nét vẽ mộc mạc ấy, ta thấy cả một Huế hiền hòa, trầm mặc nhưng kiên cường gìn giữ truyền thống.
Đến nay, tranh làng Sình đã trở thành mưu cầu của nếp sống văn hoá Huế và là di sản văn hoá quý báu của dân tộc. Dòng tranh này đã tạo nên một nét đặc thù, thể hiện một nét sinh hoạt tâm linh của không chỉ người dân Thừa Thiên Huế, mà còn có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần ở nhiều miền quê khắp dải đất miền Trung.
Ngọn lửa nghề ở làng Sình – như hương Thủy Xuân – vẫn cháy âm ỉ qua từng thế hệ. Những bức tranh dân gian ấy sẽ còn tiếp tục “kể chuyện” về Huế, về văn hóa Việt, về tình yêu và niềm tin của người dân xứ cố đô.
“Nét bút xưa còn đọng sắc thời gian
Làng Sình giữ hồn quê trong từng mảnh giấy.”


Nhận xét
Đăng nhận xét